Sau những dự án vệ tinh và chương trình hợp tác quốc tế, Việt Nam đã hình thành một lớp kỹ sư có khả năng tự quyết các bài toán kỹ thuật, tạo nền tảng cho bước phát triển mới của công nghệ vũ trụ.
Qua quá trình phát triển, Việt Nam đã từng bước hình thành năng lực nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ vũ trụ, từ phát triển các vệ tinh nhỏ đến xây dựng hạ tầng, đào tạo nhân lực và khai thác dữ liệu không gian.

PGS.TS Phạm Anh Tuấn, nguyên Tổng Giám đốc Trung tâm Vũ trụ Việt Nam chia sẻ (Ảnh: Thanh Bình).
Từ quá trình xây dựng và phát triển năng lực công nghệ vũ trụ của Việt Nam, phóng viên Dân trí có cuộc trao đổi với PGS.TS Phạm Anh Tuấn, nguyên Tổng Giám đốc Trung tâm Vũ trụ Việt Nam, về những kết quả đã đạt được, yêu cầu làm chủ công nghệ, phát triển nguồn nhân lực và định hướng trong thời gian tới.

Sau 2 thập kỷ phát triển công nghệ vũ trụ, PGS đánh giá năng lực và vị thế hiện nay của Việt Nam so với các nước Đông Nam Á ra sao?
– Việt Nam đã xây dựng được một nền tảng công nghệ vũ trụ tương đối đa dạng và điều này cần được nhìn ở phạm vi rộng hơn câu chuyện chế tạo một vài vệ tinh nhỏ.
Một dấu mốc rất quan trọng trong quá trình phát triển năng lực vũ trụ của Việt Nam là việc đưa vào khai thác hai vệ tinh viễn thông VINASAT-1 năm 2008 và VINASAT-2 năm 2012. Hai vệ tinh địa tĩnh đã giúp Việt Nam hình thành năng lực khai thác, vận hành hệ thống thông tin vệ tinh, phục vụ truyền hình, truyền dữ liệu, thông tin liên lạc tại vùng sâu, vùng xa, biển, đảo, đồng thời tăng cường khả năng dự phòng cho hạ tầng viễn thông quốc gia.
Song song, chúng ta từng bước hình thành năng lực tự phát triển vệ tinh nhỏ, từ PicoDragon, MicroDragon đến NanoDragon và các thế hệ tiếp theo. Cùng với đó là sự phát triển hạ tầng trạm mặt đất, xử lý dữ liệu, công nghệ địa không gian, nghiên cứu khoa học vũ trụ và đào tạo nhân lực.

Kỹ sư Việt từng bước hình thành năng lực từ việc phát triển vệ tinh nhỏ (Ảnh: Thanh Bình).
Nếu so với các nước Đông Nam Á, tôi cho rằng Việt Nam hiện thuộc nhóm quốc gia đã có năng lực vũ trụ thực chất trên nhiều mắt xích, chứ không còn ở giai đoạn mới tiếp cận.
Nhưng cũng phải thừa nhận, chúng ta chưa dẫn đầu khu vực.
Singapore có lợi thế rõ về doanh nghiệp và thương mại hóa, Thái Lan có năng lực mạnh về vệ tinh quan sát Trái Đất, Indonesia có lịch sử lâu hơn trong vài lĩnh vực vệ tinh và một số nước khác cũng đang tiến rất nhanh.
LOTUSat-1 với khối lượng khoảng 600kg và công nghệ radar đã đánh dấu bước tiến đáng kể so với các vệ tinh nhỏ trước đây. Theo PGS, dấu mốc này giúp thay đổi vị thế phát triển công nghệ vũ trụ của Việt Nam trong khu vực ra sao?
– LOTUSat-1 cần được nhìn nhận đúng bản chất. Đây là vệ tinh radar được phía Nhật Bản phát triển, chế tạo trong khuôn khổ dự án hợp tác với chúng ta. Các kỹ sư Việt tham gia quá trình triển khai, đào tạo, tiếp nhận công nghệ và chuẩn bị vận hành.

Hình thành vệ tinh LOTUSat-1 có sự tham gia của các kỹ sư Việt (Ảnh: VNSC).
Vì vậy, chúng ta không nên diễn giải rằng Việt Nam đã tự thiết kế và chế tạo hoàn toàn một vệ tinh radar gần 600 kg. Tuy nhiên, ý nghĩa của vệ tinh này vẫn rất lớn, không chỉ nằm ở khối lượng vệ tinh mà ở cấp độ công nghệ và cấp độ khai thác hệ thống.
Radar khẩu độ tổng hợp cho phép quan sát ngày và đêm, đồng thời có khả năng làm việc qua mây. Điều này rất phù hợp với điều kiện Việt Nam, nơi nhiều thiên tai nghiêm trọng xảy ra trong mùa mưa, đúng thời điểm các vệ tinh quang học thường gặp hạn chế bởi mây che phủ.
Quan trọng hơn, LOTUSat-1 đưa đội ngũ kỹ sư Việt tiếp cận một hệ thống quan sát Trái Đất có mức độ phức tạp và tính nghiệp vụ cao hơn: từ vận hành vệ tinh, lập kế hoạch chụp, truyền lượng dữ liệu lớn xuống mặt đất, xử lý ảnh radar đến tổ chức cung cấp sản phẩm cho người sử dụng.

Nhiều nước Đông Nam Á đang tăng cường năng lực trên không gian vũ trụ, Việt Nam cần ưu tiên những hướng nào để phát huy tốt hơn năng lực hiện có, đáp ứng các nhu cầu về phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh và quản lý tài nguyên?
– Chúng ta không nên lựa chọn giữa viễn thông hay quan sát Trái Đất, cũng không nên chạy theo tất cả vệ tinh mà thế giới đang làm mà cần xây dựng một cấu trúc năng lực vũ trụ phù hợp với nhu cầu quốc gia.
Trước hết, thông tin vệ tinh vẫn là một hạ tầng chiến lược. Sau gần hai thập kỷ khai thác VINASAT, Việt Nam cần tiếp tục duy trì khả năng chủ động về thông tin vệ tinh, nhất là cho những khu vực mà mạng mặt đất khó bảo đảm, cho biển đảo, tình huống thiên tai và những nhu cầu đặc thù về quốc phòng, an ninh.
Trong bối cảnh công nghệ đang thay đổi rất nhanh với vệ tinh thông lượng cao và các chùm vệ tinh quỹ đạo thấp, việc lựa chọn kiến trúc thế hệ tiếp theo cần dựa trên nhu cầu thực tế chứ không nhất thiết lặp lại nguyên mô hình công nghệ cũ.

Việt Nam cần phát triển năng lực vũ trụ theo nhu cầu quốc gia (Ảnh: Thanh Bình).
Thứ hai, quan sát Trái Đất tiếp tục là lĩnh vực Việt Nam có nhu cầu lớn và đã có nền tảng tương đối tốt. Nhưng cần chuyển từ tư duy sở hữu từng vệ tinh đơn lẻ sang xây dựng năng lực quan sát: kết hợp vệ tinh quang học, radar, các vệ tinh nhỏ có tần suất lặp cao và dữ liệu mua hoặc trao đổi từ quốc tế.
Thứ ba là định vị, dẫn đường và thời gian. Việt Nam chưa có hệ thống định vị vệ tinh riêng và cũng không nhất thiết phải xây dựng một hệ thống toàn cầu. Nhưng đây là hạ tầng nền tảng của giao thông, logistics, hàng không, hàng hải, nông nghiệp chính xác, viễn thông và nhiều hạ tầng số.
Thứ tư là những hướng mới như IoT vệ tinh, kết nối trực tiếp tới thiết bị, giám sát tín hiệu, nhận thức tình huống không gian và thời tiết vũ trụ. Tôi cho rằng nên nghiên cứu và thử nghiệm có chọn lọc, ưu tiên những bài toán Việt Nam thực sự có nhu cầu thay vì phát triển công nghệ chỉ để chứng minh rằng mình làm được.
Một việc khác rất quan trọng là phải phát triển thị trường ứng dụng công nghệ vũ trụ. Nhà nước có thể là khách hàng đầu tiên đối với dữ liệu thiên tai, môi trường, biển, nông nghiệp hay các dịch vụ thông tin đặc thù. Nhưng sau đó cần tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển các sản phẩm, dịch vụ thương mại từ dữ liệu và hạ tầng không gian.
Là người tham gia đặt nền móng cho Trung tâm Vũ trụ Việt Nam từ những ngày đầu, PGS nhìn thấy sự thay đổi lớn nhất của đội ngũ cán bộ, kỹ sư trong nước qua hai thập kỷ qua là gì?
– Nếu phải chọn một thay đổi lớn nhất, tôi sẽ nói đó là sự chuyển đổi từ người đi học cách người khác làm sang người có thể tự đưa ra quyết định kỹ thuật và chịu trách nhiệm về quyết định đó.
Những năm đầu, khoảng cách kinh nghiệm giữa kỹ sư Việt và đối tác quốc tế đã có hàng chục năm phát triển công nghệ vũ trụ là rất lớn. Chúng tôi phải học từ những vấn đề cơ bản nhất: một dự án vệ tinh được tổ chức ra sao, tại sao phải kiểm soát từng giao diện, vì sao một thay đổi nhỏ cũng phải xem xét tác động tới toàn hệ thống.
Qua từng dự án, các kỹ sư bắt đầu biết đặt câu hỏi ngược lại với chuyên gia nước ngoài, biết phản biện một phương án thiết kế, phân tích sự đánh đổi giữa khối lượng, công suất, hiệu năng, chi phí và độ tin cậy, và quan trọng nhất là chịu trách nhiệm với phương án mà mình lựa chọn.
Đối với tôi, đó mới là chuyển giao công nghệ thực sự.

Nhóm kỹ sư của Trung tâm Vũ trụ Việt Nam (Ảnh: VNSC).
Thiết bị có thể mua, tài liệu thiết kế có thể chuyển giao, nhưng năng lực phán đoán của một kỹ sư hệ thống, kinh nghiệm nhận diện rủi ro trước khi xảy ra sự cố hay đánh giá một kết quả thử nghiệm bất thường có thể chấp nhận được hay không chỉ được hình thành qua nhiều năm trực tiếp tham gia các dự án thực tế.
Tuy nhiên, điều tôi còn trăn trở là đội ngũ này chưa lớn.
Lĩnh vực vũ trụ cần những chuyên gia rất sâu và cần cả những người có khả năng nhìn toàn bộ hệ thống – những “tổng công trình sư”. Họ không thể được tạo ra chỉ bằng một chương trình đào tạo hay một bằng cấp. Họ phải được giao những bài toán đủ khó và làm liên tục qua nhiều thế hệ sản phẩm.
Nếu hỏi tài sản quý nhất sau gần 20 năm xây dựng năng lực công nghệ vũ trụ là gì, tôi cho rằng không chỉ là các vệ tinh hay cơ sở hạ tầng đã có, mà chính là đội ngũ con người đã trưởng thành cùng các chương trình đó.

Nghị quyết 57 đã xác định yêu cầu nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ trong phát triển không gian vũ trụ, theo PGS, những yêu cầu này đặt ra định hướng như thế nào đối với quá trình phát triển công nghệ vũ trụ trong thời gian tới?
– Theo tôi, cơ hội lớn nhất hiện nay là công nghệ vũ trụ đang được nhìn nhận ở tầm chiến lược cao hơn trước. Nhưng để Nghị quyết 57 và các chủ trương liên quan được triển khai đồng bộ, hiệu quả, điều quan trọng không chỉ là có thêm các dự án hay nguồn lực đầu tư, mà phải có một cơ chế điều phối đủ mạnh ở tầm quốc gia.
Chúng ta nên nghiên cứu thành lập Trung tâm Vũ trụ Quốc gia với chức năng chính là tham mưu và điều phối chiến lược, chương trình vũ trụ quốc gia. Đây không nên là một cơ quan làm thay công việc chuyên ngành của các bộ, ngành hoặc thay thế các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp, mà là đầu mối giúp kết nối các nhu cầu và nguồn lực đang nằm ở nhiều lĩnh vực khác nhau.
Đồng thời, phải phân biệt rõ tự chủ với tự làm tất cả. Một quốc gia có nguồn lực hữu hạn như Việt Nam cần xác định những công nghệ, dữ liệu và hạ tầng nào liên quan trực tiếp đến lợi ích quốc gia thì cần kiểm soát hoặc từng bước làm chủ, những thành phần khác hoàn toàn có thể mua trên thị trường hoặc hợp tác quốc tế nếu hiệu quả hơn.
Nhà nước nên chuyển dần từ việc chủ yếu tài trợ cho các đề tài sang đặt ra bài toán và mua sản phẩm, dịch vụ. Khi một bộ, ngành cần giám sát một khu vực biển với tần suất cụ thể, cần kết nối vệ tinh cho một địa bàn khó khăn hay cần một sản phẩm dữ liệu với thời gian cung cấp xác định, yêu cầu đó phải được lượng hóa. Khi có khách hàng thật và tiêu chuẩn đầu ra thật, viện nghiên cứu và doanh nghiệp mới có động lực phát triển công nghệ theo hướng hiệu quả và bền vững.

PGS.TS Phạm Anh Tuấn có nhiều năm gắn bó với công nghệ vũ trụ Việt Nam (Ảnh: Thanh Bình).
Khung pháp lý cũng phải đi trước một bước. Khi doanh nghiệp tham gia sâu hơn, Việt Nam cần giải quyết đồng bộ các vấn đề về cấp phép hoạt động vũ trụ, đăng ký vật thể, phối hợp tần số và quỹ đạo, trách nhiệm, bảo hiểm, an toàn, dữ liệu, giảm thiểu rác vũ trụ và thực hiện nghĩa vụ quốc tế.
Cuối cùng vẫn là con người. Muốn có chuyên gia giỏi và những tổng công trình sư, cách tốt nhất là giao cho họ những bài toán đủ lớn, cho phép họ sáng tạo và đồng thời buộc họ chịu trách nhiệm với kết quả.
Xin trân trọng cảm ơn Phó Giáo sư đã dành thời gian trò chuyện!
Vũ Thanh Bình









